CFO LAND

EBITDA, Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA, Earnings before interest, taxes, depreciation and amortization)

Công thức tính: EBITDA = Doanh thu - Các khoản chi phí (ngoại trừ chi phí lãi vay, thuế, khấu hao tài sản cố định hữu hình và vô hình)

Hoặc: EBITDA = EBIT (Lợi nhuận trước thuế và lãi vay) + Khấu hao tài sản cố định hữu hình và vô hình

Như gợi ý từ công thức, EBITDA là chỉ tiêu giúp phân tích mức độ sinh lợi của doanh nghiệp, dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua từng thời kỳ hay so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau, phổ biến thông qua tỷ lệ lãi EBITDA.

EBITDA cũng là một yếu tố được sử dụng để tính toán tỷ lệ định giá EV/EBITDA, dùng để so sánh khi đi mua lại doanh nghiệp hay đầu tư cổ phiếu.

Ưu điểm của EBITDA là cho phép người sử dụng so sánh được mức độ sinh lợi của doanh nghiệp qua từng thời kỳ hay so sánh với các doanh nghiệp khác, trung bình ngành một cách chính xác hơn.

Điều này có được là nhờ EBITDA đã loại trừ ảnh hưởng của:

(1) Các chi phí khấu hao tài sản cố định, vốn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phương pháp kế toán khác nhau, hay khấu hao xuất phát từ lợi thế thương mại do đi thâu tóm doanh nghiệp khác;

(2) Cấu trúc vốn (ở khía cạnh vốn vay và chi phí lãi vay); cũng như

(3) Chi phí thuế (quy định luật thuế khác nhau tùy theo địa phương, ngành nghề, quy mô doanh nghiệp…).

Nói cách khác, chỉ số này đã loại bỏ được ảnh hưởng do các quyết định về mặt kế toán, tài chính hay quy định pháp luật gây ra.

Sử dụng: EBITDA ban đầu được sử dụng để định giá và đánh giá khả năng thanh toán nợ của công ty, phục vụ các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) vào những năm 1980.

Sau đó, chỉ số này trở nên phổ biến hơn trong các ngành có tài sản giá trị lớn, cần chiết khấu trong thời gian dài; vì như đề cập ở trên, EBITDA loại trừ được ảnh hưởng của các chính sách kế toán liên quan đến khấu hao tài sản cố định.

Ngày nay, EBITDA được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Tương tự như nhiều chỉ số tài chính khác, chúng ta cần so sánh EBITDA của doanh nghiệp qua nhiều thời kỳ, so sánh với các doanh nghiệp khác, so với trung bình ngành để có cái nhìn chính xác hơn.

Những quan niệm sai lầm

(1) Vì loại trừ hàng loạt yếu tố chi phí lớn của doanh nghiệp, EBITDA thường cho ra một con số tuyệt đối lớn hơn rất nhiều so với EBIT hay lợi nhuận thuần. Điều này có thể khiến cho người sử dụng, nhà đầu tư, nhà phân tích lầm tưởng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

(2) EBITDA âm rõ ràng là một dấu hiệu cảnh báo về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa EBITDA dương là một dấu hiệu tích cực và doanh nghiệp đang tạo ra tiền.

(3) Vì EBITDA loại bỏ chi phí phi tiền mặt (non-cash) quan trọng là khấu hao tài sản cố định, nhiều người lầm tưởng rằng đây là một thông số biểu thị dòng tiền.

Tuy nhiên, EBITDA đã không tính đến sự thay đổi trong dòng vốn lưu động (working capital) và các dòng tiền tài chính hay dòng tiền đầu tư nên hoàn toàn không thể thay thế các chỉ tiêu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong hoạt động phân tích tài chính và đầu tư.

Bfinance